Bài đăng mới
print this page

Người Việt hay Người Hán, ai đồng hóa ai?

Trả lời câu hỏi: Vì sao người Việt không bị đồng hóa?

Hà Văn Thùy
11:02' AM - Thứ ba, 15/09/2015
Tạp chí Nghiên cứu quốc tế số ra ngày 7 tháng 9 đăng bài Tại sao Việt Nam không bị đồng hóa sau 1.000 năm Bắc thuộc?của ông Nguyễn Hải Hoành. (http://nghiencuuquocte.net/2015/09/07/viet-nam-khong-bi-dong-hoa-1000-nam-bac-thuoc/). Trong bài viết hơn 5000 chữ, tác giả cho rằng: “Có thể kết luận: dân tộc Việt Nam tồn tại được và không bị đồng hóa sau hơn 1.000 năm chịu sự thống trị của một quốc gia liền kề có nền văn hóa lớn mạnh là nhờ đã phát huy bản lĩnh trí tuệ của mình, thể hiện ở chỗ sáng tạo được biện pháp đọc chữ Hán bằng tiếng Việt, qua đó đã vô hiệu hóa chủ trương đồng hóa ngôn ngữ của các triều đại phong kiến Trung Hoa.”
Đó là cách nhìn rất sai về con người và văn hóa phương Đông. Một cách nhìn giản đơn, hời hợt trong khi thực tế lịch sử phức tạp và sâu xa hơn nhiều.
Lâu nay, chúng ta nói quen miệng: văn hóa Trung Hoa, tiếng nói Trung Hoa, chữ viết Trung Hoa… nhưng thực sự chưa ai biết người Trung Hoa là ai? Vì vậy những chuyện về Tiếng nói Trung Hoa, chữ viết Trung Hoa, văn hóa Trung Hoa… thiên hạ bàn bao nhiêu cũng hầu như là nói mò, tán dóc! Không thể trách ông Nguyễn Hải Hoành cùng các học giả Việt Nam vì cho tới nay chính người Trung Hoa cũng không trả lời được những câu hỏi trên!
Trong tiểu luận này, tôi xin trình bày cách nhìn khác, bằng con mắt của thế kỷ mới.
I. Nguồn gốc người Trung Hoa
70.000 năm trước, hai đại chủng Homo sapiens là Australoid và Mongoloid từ châu Phi, theo ven biển Ấn Độ tới Việt Nam. Tại đây, họ hòa huyết với nhau rồi con cháu họ hòa huyết tiếp trong nhiều vạn năm, cho ra hai chủng người Việt cổ Indonesian (Lạc Việt) và Melanesian. Trong quá trình hòa huyết, họ cũng hòa hợp về tiếng nói. Chủng Lạc Việt (Indonesian) là đa số, giữ vai trò lãnh đạo về xã hội và ngôn ngữ. Sau đó, người từ Việt Nam đi lên khai phá Hoa lục rồi vượt eo Bering sang chinh phục châu Mỹ. Khoảng 4000 năm TCN, người Việt sống khắp Hoa lục và xây dựng ở đây nền văn hóa nông nghiệp rực rỡ. Khoảng 3300 năm TCN, tổ tiên ta lập nhà nước đầu tiên với vị vua huyền thoại Thần Nông ở kinh đô Lương Chử vùng Thái Hồ. Khoảng năm 2879 TCN, nước Xích Quỷ của Kinh Dương Vương ra đời. (1)
Năm 2698 TCN, người Mông Cổ du mục xâm lăng đất của người Việt ở Nam Hoàng Hà, dựng vương triều Hoàng Đế. Do số người ít, văn hóa chưa phát triển, người Mông Cổ học nghề nông cùng tiếng nói của người Việt. Tiếng Việt bị nói trại theo giọng Mông Cổ và trong vai trò thống trị, người Mông Cổ áp đặt xã hội nói theo cách nói Mông Cổ (Mongol parlance) mà ngày nay ta gọi là “nói ngược” phụ trước chính sau: tôi đi trước -> tôi trước điThịt gà -> gà thịt… Trong quá trình sinh sống, người Mông Cổ hòa huyết với người Việt, sinh ra người Hoa Hạ. Sau mấy đời, người Mông Cổ thuần chủng không còn, người Hoa Hạ thay cha ông, thiết lập các triều đại từ Nghiêu, Thuấn tới nhà Chu. Cả thời kỳ lịch sử dài, người Hoa Hạ chỉ chiếm giữ phần nhỏ đất Hoa lục. Ở phần đất còn tự do rộng mênh mông, người Việt thành lập những tiểu quốc, luôn chống lại kẻ xâm lăng. Tuy nhiên, do nắm vai trò chính thống, người Hoa Hạ coi các tộc người Việt bản địa là man di còn mình là cội nguồn của dân tộc Trung Hoa. Cuối thời Chu, nhà Tần gồm những bộ tộc Tây Nhung người Việt, diệt lục quốc, nắm quyền lãnh đạo. Do mất vai trò thống trị, người Hoa Hạ mất vị trí tầng lớp tinh hoa, hòa tan trong cộng đồng Việt đông đảo. Hạng Võ rồi Lưu Bang, là người Việt nước Sở diệt nhà Tần, lập nhà Hán. Vương quyền vào tay người Việt. Nhưng do vang bóng của Hoa Hạ trong quá khứ nên nhà Hán cũng tự nhận là Hoa Hạ!
Như vậy, tổ tiên người Trung Hoa là người Lạc Việt từ Việt Nam đi lên khai phá Hoa lục từ 40.000 năm trước. Trong quá trình sống trên lưu vực Hoàng Hà, người Việt hòa huyết với người Mông Cổ, sinh ra người Việt hiện đại, chủng Mongoloid phương Nam, mà người Hoa Hạ là một bộ phận. Sau cuộc xâm lăng của Hoàng Đế, người Việt Mongoloid phương Nam lan tỏa xuống phía Nam và Đông Nam Á, làm chuyển hóa di truyền hầu hết dân cư Đông Nam Á sang chủng Mongoloid phương Nam như hiện nay.(2)

Khởi nghĩa Lam Sơn (1418-1427) là cuộc khởi nghĩa đánh đuổi quân Minh xâm lược
do Lê Lợi lãnh đạo và kết thúc bằng việc giành lại độc lập cho nước Đại Việt
và thành lập nhà Hậu Lê...
II. Tiếng nói và chữ viết Trung Hoa.
1. Về nguồn gốc của tiếng nói Trung Hoa
Khi di cư, người tiền sử mang theo tiếng nói của mình từ quê mẹ châu Phi tới Việt Nam. Tại đây, cùng với hòa hợp máu huyết cũng diễn ra hòa hợp ngôn ngữ giữa các tộc người. Tiếng Lạc Việt Indonesian thành chủ thể của tiếng nói cộng đồng. Cố nhiên, tiếng nói không đồng nhất bởi lẽ, ngoài tiếng Lạc Việt được dùng như tiếng “phổ thông” thì mỗi nhóm có tiếng nói riêng. Do vị trí địa lý, khu vực miền Trung là nơi mà tổ tiên chúng ta định cư sớm nhất (bằng chứng là các di chỉ Núi Đọ, hang Con Moong). Vì vậy, ngôn ngữ vùng này là ngôn ngữ gốc của người Việt. Người di cư đưa tiếng Việt tới Quảng Đông, Phúc Kiến rồi chiếm lĩnh toàn bộ Hoa lục. Do sống tại những môi trường địa lý cùng sự tiếp xúc dân cư khác nhau, tiếng nói bị phân ly, ngày càng xa nhau tới mức không hiểu được nhau. Vì vậy, thời nhà Chu đã cho tiếng phương Nam là Nhã ngữ, có nghĩa là thứ tiếng nói thanh nhã và khuyến khích dân chúng dùng Nhã ngữ. (3)
Ngày nhỏ nghe các cụ truyền ngôn: “Hoa Việt đồng văn đồng chủng” quả tình tôi không thể nào hiểu nổi. Nhưng từ khám phá hôm nay thấy cha ông ta vô cùng sáng suốt!
2. Về chữ viết Trung Hoa
Truyền thuyết Trung Hoa nói rằng Hoàng Đế sai Thương Hiệt làm ra chữ. Nhưng trên thực tế, nhà Hạ chưa có chữ và hơn nửa thời Thương, người Hoa Hạ cũng chưa có chữ. Trong khi đó, trên vùng cư trú của người việt, chữ tượng hình được sáng tạo từ rất lâu rồi. Khảo cổ học khám phá, 9000 năm trước ký tự tượng hình đã xuất hiện ở văn hóa Giả Hồ. Cuối năm 2011 phát hiện “phù tự” (chữ dùng cho bùa chú, tế tự) khắc trên đá tại di chỉ Cảm Tang tỉnh Quảng Tây 4000 – 6000 năm trước. Chữ khắc trên giáp cốt cũng tìm thấy ở văn hóa Lương Chử hơn 3000 năm TCN. Từ những phát hiện chữ viết sớm (trước khi người Hoa Hạ ra đời) trên vùng đất cư trú của người Việt, cho thấy, chữ tượng hình Giáp cốt văn là do người Việt sáng tạo. Từ Cảm Tang, chữ được đưa lên Hà Nam vùng Trong Nguồn, là trung tâm kinh tế văn hóa lớn của người Việt. Chữ được cải tiến và được dùng làm công cụ ghi chép. Khoảng 1300 năm TCN, vua Bàn Canh chiếm đất An Dương của người Việt, lập triều Ân. Chính ở đây người Hoa Hạ gặp Giáp cốt văn. Thấy giá trị lớn của chữ giáp cốt, nhà Ân đã đưa chữ của người Việt lên bước phát triển cao. Tiếp đó nhà Chu chuyển từ văn khắc trên yếm rùa, xương thú thành chữ viết trên lụa, trên thẻ tre, khắc trên đồ đồng. Nhà Tần, một quốc gia người Việt, làm cuộc cách mạng chuẩn hóa văn tự, đưa chữ tượng hình có diện mạo như ngày nay. (2)
Chữ tượng hình được chế ra để ghi âm tiếng Việt là sự thật không chỉ thể hiện ở nguồn gốc của nó mà còn được lưu giữ trong Thuyết văn giải tự, cuốn từ điển đầu tiên do Hứa Thận người thời Hán viết. Dù văn bản hiện nay có nhiều thay đổi do các đời sau cải sửa nhưng gốc của nó là cuốn sách ghi lại cách đọc chữ vuông bằng tiếng Việt.
Ta thử xét đến chữ Bàn trong sách này:
番: 獸足謂之番。从釆;田,象其掌。附袁切
Phiên: Thú túc vị chi phiên. Tùng thể; điền, tượng kỳ chưởng. Phù viên thiết. (Phiên: Chân thú gọi là phiên, viết theo thể; theo điền, như là chưởng.)
Phần trên được dịch theo quan niệm của đa số hiện nay. “Phù viên thiết” cũng là do đời sau thêm vào mà phiên âm như vậy, chứ thật ra thì đoạn văn trên phải dịch là “Bàn: thú túc vị chi bàn, tùng thể; điền, tượng kỳ chưởng.” Tiền thân của chữ Phiên 番 ở thời Hán, vào lúc ông Hứa Thận còn sống thì đọc là Bàn. Bàn: chân thú gọi là bàn (bàn chân), viết theo bẻ 釆 (thể) và đàn 田 (điền), tựa cái bàn (tay, chân)... (Đỗ Ngọc Thành – Đi tìm nguồn gốc chữ Nôm. Nhannamphi.com)
Vì vậy, nếu truy tới cùng thì mọi chữ vuông chỉ khi đọc bằng tiếng Việt và giải nghĩa bằng nghĩa tiếng Việt mới chính xác. Thí dụ câu Lang bạt kỳ hồ/tái trí kỳ vĩ trong kinh Thi, được Chu Hy giảng: “Hồ là cái yếm ở cổ con sói khi già thì thòng xuống nên con vật bước tới dẵm phải yếm, bước lui đạp phải đuôi. Câu thơ chỉ tình trạng tiến thoái lưỡng nan.” Rõ ràng là vô lý vì không bao giờ con sói có yếm ở cổ! Ngay những loài có yếm như bò hay lạc đà thì cũng không bào giờ yếm chùng đến nỗi con vật dẫm phải! Thực ra, “hồ” vốn là hố, hangtrong tiếng Việt của người làm ra kinh Thi với ý nghĩa: “sói trốn vào hang/ vẫn lòi cái đuôi”, mô tả tình trạng giấu đầu hở đuôi của con sói để lên án đám quý tộc che giấu cuộc sống ăn trên ngồi trốc của mình. “Hố” của tiếng Việt được đưa vào kinh ở thời Chu nhưng sau đó, người thời Tống không còn hiểu tiếng Việt nữa nên chuyển thành “Hồ” và biến nghĩa thành cái yếm của con sói! (4)
3. Khi sang Việt Nam, người Hán nói tiếng gì?
Với nhiều người thì đó là câu hỏi lẩm cẩm, bởi lẽ cố nhiên, người Hán phải nói tiếng Hán. Nhưng tiếng Hán là tiếng gì? Chỉ mới đây, tôi mới khám phá ra: khi sang việt Nam người Hán nói tiếng Việt! Tổ tiên người Hán vốn là người Việt. Do thời gian đi xa, không gian cũng xa và hoàn cảnh lịch sử bắt phải “nói ngược” nhưng “hương âm vô cải” nên những thế kỷ đầu Công nguyên, người Hán vẫn nói tiếng Việt! Không có gì lạ, khi một người Bana hôm nay sang Indonesia, liền nghe và nói được tiếng địa phương. Người Trung Quốc đã thực hành một cuộc chơi: mời cặp nam nữ người Thái Lan sang giao lưu với thanh niên Choang. Người Thái cứ nói tiếng Thái, người Choang cứ nói tiếng Choang mà hiểu được nhau! Như vậy, ít nhất trong 400 năm đưới thời nhà Hán, quan lính Hán sang Việt Nam nói tiếng Việt. Chữ Hán được đọc bằng tiếng Việt. Một chứng cứ cho chuyện này là bức thư của Hứa Tịnh, một người phương Bắc di cư xuống làm quan với Lưu Bị, viết trả lời Tào Tháo: “đã đi từ Hội Kế (Cối Kê - Hàn Châu ngày nay), qua Giao Châu, Đông Âu, Mân Việt, cả vạn dặm mà không thấy đất Hán.”
(从会稽“南至交州,经历东瓯、闽越之国,行经万里,不见汉地” – Từ Hội Kế nam chí Giao Châu, kinh lịch Đông Âu, Mân Việt chi quốc, hành kinh vạn lý, bất kiến Hán địa.) Như vậy, tuy 400 năm thuộc nhà Hán nhưng vùng Giang Nam vẫn hoàn toàn là Việt: người Việt, phong tục Việt và tiếng nói Việt” (2)
Chỉ sau thời Hán, do loạn Ngũ Hồ, nhiều tộc du mục vào chiếm đất Trung Hoa, đưa tiếng nói của họ vào, khiến cho tiếng nói ở Trung Nguyên thay đổi. Thời này, việc học chữ Hán và giao tiếp với người phương Bắc trở nên khó khăn hơn.
4. Sự ra đời của Đường âm
Sau thời gian tao loạn dài, nhà Đường xác lập địa vị thống trị. Lúc này tiếng nói Trung Nguyên cũng rối loạn, mỗi nơi nói một khác khiến cho người trong nước không hiểu được nhau. Chính quyền phải dùng tiếng nói của kinh đô Tràng An làm ngôn ngữ giao tiếp trong triều đình. Buộc quan lại các tỉnh nhập kinh phải nói tiếng kinh đô. Dân gian gọi là quan thoại. Sau này được gọi là Đường âm. Kinh đô Tràng An là đất từ xa xưa của người Lạc Việt. Là trung tâm văn hóa của quốc gia văn minh bậc nhất trong lịch sử Trung Hoa, Tràng An tập trung đông đảo trí thức nên tiếng nói chịu ảnh hưởng nhiều của chữ viết: bớt phần nôm, nặng phần chữ. Đường âm truyền sang Việt Nam, được cha ông ta gọi là chữ Nho hay chữ của thánh hiền. Sau 1954 được gọi là từ Hán Việt. Theo tôi cách gọi này không đúng bởi lẽ xuất phát từ suy nghĩ sai lầm: “chữ của Hán còn cách đọc của Việt nên gọi là từ Hán Việt.” Kỳ thựcĐường âm là tiếng nói của người Việt sống ở Tràng An, do hoàn cảnh lịch sử riêng mà được hình thành vào thời nhà Đường. Ông Nguyễn Tài Cẩn cho rằng: “Hán Việt là tiếng nói của kinh đô Tràng An thời nhà Đường được đem sang dạy ở Việt Nam.” Phần được đưa sang Việt Nam chỉ là những tiếng nói được ký tự. Trong thực tế, tiếng nói thì nhiều nhưng chữ chế ra lại ít. Mặc dù dùng giải pháp từ đồng âm nhưng cũng còn rất nhiều tiếng không được ký tự, chỉ được truyền khẩu trong dân gian. Tại Trung Nguyên, những tiếng không được ký âm dần dần bị mai một. Tình hình cũng giống ở miền Giang Nam hiện nay, người ta thống kê được khoảng 20% tiếng nói không được ghi thành chữ mà chỉ được truyền miệng trong dân gian. Với thời gian, những tiếng nói dân dã này rồi sẽ biến mất! Trong khi đó, ở Việt Nam cha ông chúng ta khắc phục hạn chế của chữ Nho bằng cách làm ra chữ Nôm, bổ sung vào vốn văn tự khối lượng lớn chữ viết, để ký tự được tất cả tiếng nói của cộng đồng. Nhờ vậy mà sáng tạo được những áng văn chương tuyệt tác. Sau này, chữ quốc ngữ ký âm được cả chữ Nho, cả tiếng nói dân dã. Nhờ đó tiếng nói của người Việt Nam càng phong phú, giầu có hơn và càng xứng đáng là mẹ các ngữ (mère des langues) như H. Frey tuyên bố. (3)
Như vậy: toàn bộ hệ thống cách đọc Đường âm được mang từ Tràng An sang mà hoàn toàn không phải sản phẩm sáng tạo của người Việt Nam! Lẽ đương nhiên, việc người Việt không bị đồng hóa không liên quan gì tới từ Hán Việt!
III. Vì sao người Việt không bị đồng hóa?
Về chuyện này có thể viết cả một cuốn sách nhưng theo tôi, có ba lý do cốt lõi:
  • Về mặt di truyền học:
là tổ tiên của người Trung Hoa nên người Việt có chỉ số đa dạng di truyền cao. Độ đa dạng di truyền chỉ có thể chuyển từ cao xuống thấp. Khi sinh ra con, cha mẹ san sẻ một phần “độ đậm đặc nòi giống” của mình cho đứa trẻ nên dòng huyết thống càng xa càng nhạt. Trong khi đó, con cháu không bao giờ lội ngược dòng trở lại “độ đậm đặc nòi giống” như cha ông. Có thể ví, dân tộc Việt Nam là một biển nước mặn mà mỗi người Hán xuống Việt Nam là một thùng nước lợ. Những thùng nước lợ hòa vào biển mặn không những không thể làm biển nhạt đi mà, cái thùng nước lợ bị mặn theo!
  • Về tiếng nói:
Việt Nam là nơi phát tích của dân cư Trung Hoa nên tiếng Việt là ngôn ngữ gốc với những đặc điểm: vốn từ phong phú, đa thanh, giọng nói sáng rõ và nhất là được nói theo trật tự chính trước phụ sau. Người từ Trung Hoa trở về Việt Nam – nói chính xác là trở về đất tổ - mang về ngôn ngữ bị pha trộn, biến dạng và nhất là cách nói ngược. Cố nhiên, người Việt không thích thú thứ tiếng nói như vậy để mà học!
  • Về hoàn cảnh lịch sử:
Lịch sử đã tạo ra ở Việt Nam cộng đồng làng xã vô cùng vững chắc, hữu hiệu chống lại sự xâm nhập từ bên ngoài, ngay cả người khác xã. Người Hán hầu như không có cơ hội nhập tịch làng Việt Nam. Họ chỉ có thể tới sống nơi kẻ chợ, hành nghề làm thuê hay buôn bán và được gọi bằng danh xưng: thằng Ngô, chú Khách. Mặt khác, dù âm mưu đồng hóa là kiên trì và thâm độc nhưng do sức phản kháng kiên cường của người Việt, nên nhiều viên quan buộc phải ngó lơ những yêu cầu khắt khe của triều đình, cốt sao thu được thuế và giữ được ổn định. Một đặc điểm khác là, do bên trong Trung Quốc luôn xảy ra bạo loạn, đảo chính nên sự thống trị nhiều khi bị buông lỏng. Những lúc như vậy, tinh thần Việt được phục hưng. Một điều nữa phải nói là may mắn: suốt trong nhiều thế kỷ người Hán nói tiếng Việt rồi để lại Đường âm, một thành tựu tuyệt vời về ngữ âm. Nhưng ngay sau đó, nước ta giành lại quyền tự chủ, thoát khỏi ách đô hộ. Ta dùng Đường âm như một quốc bảo làm quốc ngữ mãi tới sau này. Trong khi đó, Trung Quốc luôn loạn lạc, các tộc người phương Bắc xâm chiếm, thống trị khiến tiếng nói biến đổi theo. Đường âm bị mai một. Do là nước độc lập, chúng ta không buộc phải học những thứ quan thoại của phương Bắc. Vì vậy giữ được tiếng nói của mình.
(Trung Thu 2015)
Tài liệu tham khảo:
1. Hà Văn Thùy. Tìm lại cội nguồn văn hóa Việt. NXB Văn học, 2006
2. Hà Văn Thùy. Viết lại lịch sử Trung Hoa.
3. Hà Văn Thùy. Tiến trình lịch sử văn hóa Việt
4. Hà Văn Thùy. Tìm bản gốc câu kinh Thi Lang bạt kỳ hồ

Tính cách con người qua cái hốt rác

Việt Nam, Phú Quốc và Rác…

Xã hội Việt Nam thiếu một thứ rất quan trọng: RÁC?
Nguyễn – Theo Dân Luận – 7 Sep 2015
racthaidochoi1
Tôi là người gốc Việt. Mặc dầu sống ở nước ngoài đã lâu và có nhiều văn hoá Tây Phương trong người nhưng tôi vẫn yêu nước Việt Nam và luôn mong muốn những điều tốt đẹp cho đất nước này. Bài viết dưới đây được thực hiện vì mục đích làm một điều gì tốt đẹp đó.
Tôi đã ở Sài Gòn hơn sáu tháng và hay có thói quen chạy xe vòng vòng quan sát tìm hiểu cuộc sống của mọi người. Khi lang thang như vậy tôi khám phá ra nhiều điều lý thú và ngạc nhiên (ví dụ như mấy chú xe ôm có thể nằm ngủ trên chiếc xe bên lề đường rất thoải mái mà không bị té). Tôi thấy nhiều điều hay nhưng cũng có nhiều điều không đẹp.
Một trong những khám phá của tôi là có nhiều người quét rác từ trong nhà ra ngoài, quét rác trước cửa nhà, hoặc trên sân trước nhà. Tuy nhiên, mặc dầu có rất nhiều người quét rác như vậy, nhưng tôi chưa bao giờ thấy họ sử dụng một cái hốt rác (sử dụng ngoài nhà). Tôi đã cố gắng quan sát, tìm kiếm trong sáu tháng qua, nhưng vẫn chưa thấy. Và tôi nhận ra rằng xã hội Việt Nam là một xã hội thiếu cái hốt rác.
Tôi đã suy nghĩ nhiều về vấn đề này. Trước tiên tôi tự hỏi mục đích của việc quét rác là gì. Dĩ nhiên, mục đích của việc này là làm sạch. Sau đó tôi lại hỏi, “Vậy có sạch không?” Nhưng câu trả lời là “Không sạch.” Quét rác như vậy không sạch. Bụi, rác nhỏ, rác lớn chỉ được đẩy ra khỏi nhà, khỏi sân, ra phía trước hoặc hai bên nhà; hoặc đôi khi được gom thành một đống nhỏ mà thôi. Nhưng chỉ mấy phút sau đó, khi một vài cơn gió bay , hoặc người đi bộ và xe cộ qua lại đưa đẩy thì bụi, rác lớn, rác nhỏ, rác cũ, rác mới lại hiện diện đầy trước sân, trước nhà. Tức là bao nhiêu bụi, rác cứ bay vòng vòng trước nhà bạn, trước nhà hàng xóm, và chạy qua chạy lại giữa nhà bạn và nhà hàng xóm mà thôi.
Kết quả là muốn sạch nhưng không sạch. Bụi và rác chỉ đơn giản chạy vòng vòng trong thành phố từ nơi này đến nơi khác, vẫn ở trong thành phố, và thành phố vẫn dơ. Có người sẽ gom rác lại với suy nghĩ nhân viên vệ sinh sẽ hốt chúng đi. Nhưng từ khi gom rác tới khi nhân viên vệ sinh đến thì những người đó vẫn phải sống với rác ngay trước nhà; hoặc gió, xe cộ và người đi bộ sẽ làm nỗ lực gom rác bị tiêu tan chỉ trong vài phút.
Tại sao không hốt và bỏ vào thùng rác ngay mà phải chờ nhân viên vệ sinh tới? Sau đó tôi còn suy nghĩ thêm về những vấn đề khác có thể liên quan đến việc quét rác này.
Thứ nhất, nó cho thấy cái lười của con người. Vì lười nên làm qua loa, cho xong, và không bỏ công.
Thứ hai, nó cho thấy sự ẩu tả và dễ dãi trong làm việc. Làm cho nhanh, không cần biết việc làm có tốt không, chất lượng công việc thế nào. Hoặc biết chất lượng xấu nhưng vẫn mặc kệ.
Thứ ba, nó cho thấy tầm nhìn rất ngắn hạn của con người. Chỉ cần sạch trước mắt, sạch vài phút là được rồi. Không cần biết và không quan tâm sau vài phút đó tình hình sẽ ra sao.
Một đặc tính nữa là sự nông cạn. Làm nhưng không suy nghĩ, phân tích nhiều về việc làm. Hoặc thấy người khác làm thì làm theo mà không suy nghĩ, không cần biết việc làm đó đúng hay sai, tốt.
Tạm bợ là đặc tính thứ năm. Cũng như trên, làm hời hợt, không quan tâm đến chất lượng, không quan tâm đến kết quả lâu dài. Chỉ cần sạch trong vài phút.
Điều thứ sáu cho thấy sự mất vệ sinh. Muốn quét cho sạch nhưng sự việc này lại làm lộ ra bản chất mất vệ sinh và không quan tâm đến vệ sinh của con người.
Thứ bảy, nó cho thấy sự ỷ lại, sự chừa, đẩy việc cho người khác. Có thể có một chút hy vọng nhỏ nhoi người hàng xóm sẽ hốt rác. Khả năng điều này xảy ra là 0% vì người hàng xóm cũng nghĩ y hệt như vậy. Hoặc ỷ lại nhân viên vệ sinh sẽ hốt rác. Tại sao chờ người khác trong khi bản thân mình làm được? Hoặc trông chờ gió, mưa, nước sẽ mang bụi rác đi một nơi khác và xuống cống.
Điều này tác hại tới môi trường rất lớn. Đặc tính kế tiếp là vô trách nhiệm. Coi việc hốt rác là trách nhiệm của ai đó chứ không phải bản thân mình mặc dầu rác trước nhà mình hoặc từ trong nhà mình được quét ra (trong một số trường hợp).
Vô trách nhiệm với bản thân công việc, chất lượng công việc và kết quả công việc. Vô trách nhiệm với những người chung quanh, với cảnh quan, và với môi trường.
Đặc điểm thứ chín là tính vô kỷ luật. Làm ẩu tả, không kỷ luật trong công việc, không kỷ luật với bản thân. Không cần biết rác đẩy ra ngoài sẽ đi đến đâu. Không quan tâm đến tác hại của công việc đối với mọi người, môi trường.
Điều cuối cùng là sự không công bằng và gian manh vặt. Điều này xảy ra khi rác được gom lại trước sân nhà hàng xóm, hoặc một nơi có vẻ giữa hai nhà nhưng gần nhà hàng xóm và xa nhà mình hơn một chút.
Tôi tin việc quét rác này phản ánh, nếu không tất cả thì cũng phần lớn, những tính chất trên. Những điều này rất quan trọng vì tính cách, tầm nhìn, và cách làm việc của con người được hình thành từ từbắt nguồn từ những việc nhỏ hàng ngày như quét rác. Sau đó những đặc tính đó sẽ được con người áp dụng trong cuộc sống, trong các công việc lớn hơn, và trong giao tiếp với mọi người. Chỉ tưởng tượng tới điều đó thôi cũng thấy thật đáng sợ. Xã hội phát triển nhờ vào sự loại bỏ các đặc tính trên.
Ở trên tôi đã nói mong muốn những điều tốt đẹp cho Việt Nam. Vậy các bạn cùng giúp tôi làm việc này nhé. Sau khi đọc xong bài viết này, và nếu đồng ý, bạn hãy chạy ngay ra chợ mua cho mình một cái hốt rác và mua thêm một cái nữa cho bạn bè. Không cần biết những người xung quanh, những người hàng xóm có hốt rác hay không, bạn cứ hốt rác. Nếu bạn thấy đúng, thấy tốt thì cứ làm… cứ tự làm… ngay bây giờ. Chúng ta cùng quét rác với một cái hốt rác trong tay nhé. -

Bãi biển Phú Quốc tràn ngập rác thải và hôi thối

212982-phu-quoc-4
Theo Người Việt -, August 18, 2015
KIÊN GIANG (NV) – Túi nylon, thùng xốp, hộp đựng thức ăn, xác động vật,… nổi dày đặc và bốc mùi hôi thối dọc các bãi biển, mé sông ở thị trấn Dương Ðông, huyện Phú Quốc.
Ðược mệnh danh là “thiên đường du lịch” của Việt Nam, với lượng du khách tăng cao theo từng năm, thế nhưng tình trạng ô nhiễm môi trường ở Phú Quốc đang rất đáng báo động bởi đi đến đâu cũng thấy rác.
212982-phu-quoc1-4
Theo mô tả của phóng viên VNExpress, ngày 17 tháng 8, cạnh khu di tích Dinh Cậu tại thị trấn Dương Ðông, một bãi rác dạt vào bờ không được thu dọn, cách đó một con đường là bãi tắm, khiến du khách không khỏi rùng mình trước khi xuống tắm.
Bến neo đậu tàu thuyền gần cửa sông Dương Ðông cũng tràn ngập các loại rác nguy hại, không thể phân hủy như túi nylon, thùng và hộp xốp dùng để đựng thức ăn… Thậm chí, người dân còn làm “cầu tõm” xả thẳng ra biển.
Bà Lê Thị Bé (54 tuổi), cư dân ở gần cửa sông cho biết, nhiều lúc xác nhiều loại động vật bị vứt xuống biển bốc mùi tử khí nồng nặc. “Thỉnh thoảng có đợt phát động phong trào thanh niên thu gom rác nhưng rồi đâu lại vào đấy,” bà Bé ta thán.
Phía dưới các nhà hàng, quán ăn bên bờ sông Dương Ðông cũng tràn ngập rác. Nhiều nhất là bọc nylon, hộp xốp đựng thức ăn…do du khách mua mang đến khu vực bãi biển ăn rồi vứt lại.
Cùng với rác, khách du lịch đến công viên lớn sát bờ biển ở thị trấn để du ngoạn cũng rất dễ dàng bắt gặp những miệng cống lộ thiên xả nước đen ngòm, bốc mùi hôi thối trực tiếp ra biển, khiến cho nơi này luôn có “dòng nước đen” nhạt dần ra phía biển.
Ông Phạm Văn Nghiệp, phó chủ tịch huyện Phú Quốc thừa nhận với VNExpress: “Ô nhiễm môi trường ở Phú Quốc hiện rất đáng lo ngại.”
Ngay cả ông Lê Văn Thi, chủ tịch tỉnh Kiên Giang cũng xác nhận, môi trường Phú Quốc hiện chưa bảo đảm, cần phải có biện pháp bảo vệ, nếu không sắp tới lượng khách tăng với nhịp độ 30-40% mỗi năm thì việc bảo vệ môi trường ở đây sẽ khó hơn. (Tr.N)

Học ở Việt Nam

Chúng ta đang học để ngu

hoc de ngu
Một bộ phận dân chúng Việt Nam hiểu được quyền của mình, trách nhiệm của nhà nước trong xã hội nhưng số này còn ít lắm. Dân Việt Nam mình vẫn còn nhiều, nhiều người ngu ngơ về quyền lợi của mình trong xã hội, và vẫn mù quáng tin tưởng vào nhà nước như thời phong kiến dân tin vua là con thiên tử.
Ở cái thời đại này rồi mà nhiều người vẫn còn chấp nhận cái chân lý “yêu đảng là yêu nước”, nó giống như thời kì lạc hậu ngày xưa “yêu vua là yêu nước” vậy. Lòng yêu nước đã bị lợi dụng để duy trì quyền lực cho một dòng họ theo cái tục cha truyền con nối ở thời phong kiến, và nay nó dùng để duy trì sự cai trị vô lý của một đảng phái.
Các cụ ta ngày xưa đã mổ xé văn hoá Hán tộc ảnh hưởng như thế nào đối với xã hội Việt Nam, nhưng tưởng nó đã không còn mấy đậm nét trong sinh hoạt xã hội Việt Nam ngày hôm nay. Ơi thế mà nó có mất đi đâu, nó chỉ biến dạng theo một cách khác kể từ khi cộng sản nắm quyền mà thôi.
Người Hán chấp nhận Vua là trung tâm của xã hội như vẫn từng hô hào họ là trung tâm của thiên hạ. Người Việt dù có kiến cường chống phương bắc tới đâu thì vẫn bị lệ thuộc họ trong nhiều cách khác nhau. Điều dễ nhận thấy là trong triết lý giáo dục của người Việt Nam từ xưa cho tới nay. Dân Việt tại sao dễ chấp nhận quyền cai trị độc tôn của đảng cộng sản như vậy? Tại sao thích kiểu yên ổn chuyên chính của chính quyền như vậy? Xét kỹ thì nhận ra rằng đó là do ảnh hưởng của văn hoá Trung Hoa, nó ngấm vào máu, vào tận xương tuý và được truyền lại từ vô thức của xã hội lên từng gia đình và cá nhân.
Dân trí thấp không phải là ở chỗ đất nước có bao nhiêu người biết đọc, biết viết mà là ở chỗ còn bao nhiêu người tôn thờ nền quân chủ. Có người đã nói Việt Nam bây giờ chỉ là sự phát triển của chế độ phong kiến theo máu mũ ngày xưa. Vẫn chỉ là chế độ lấy nhân trị, tức là xã hội dù có luật pháp thì tính nghiêm minh phù thuộc vào quyết định, cảm tình của con người.
Dân trộm dăm ba trăm ngàn thì bị tù mấy năm trời, thế mà quan tham nhũng trăm triệu, chục tỉ nặng thì cách chức, cho tù vài năm còn bình thường thì đứng lên nhận khuyết điểm, bị khiển trách rồi mọi việc đâu lại vào đó.
Dân có đánh chết người thì nhẹ cũng 10-20 năm tù nặng thì chung thân tử hình, ấy thế mà công an, quan chức làm chết người thì xét công trạng rồi thì nặng lắm cũng vài năm ba năm tù còn bình thường cứ mấy năm án treo, cách chức. Có người vi phạm luật pháp nghiêm trọng báo chí, nhà nước tung lên là bị kỷ luật, bị xử phạt nghiêm minh nhưng thực tế thì di chuyển công tác, có khi lại còn nhận chức vụ cao hơn trước khi phạm luật.
Nói ra để thấy, cái xã hội Việt Nam ngày hôm nay có khác mấy cái thời lạc hậu, man rỡ thời phong kiến ngày xưa đâu. Cụ Phan Châu Trinh ngày trước đã từng nói “chúng ta đã thua thế giới văn minh gần một thể kỷ về văn hoá, kinh tế, khao học kỷ thuật”, đó là cụ so sánh Việt Nam với Pháp, Anh, Nhật, Mỹ chứ bây giờ Việt Nam mình còn để cả Lào, Campuchia vượt mặt về nhiều mặt. Chả mấy chốc mà họ sẽ không để ta sau lưng mấy chục năm đâu.
Dân đen đã mù mờ về quyền công dân của mình trong xã hội đã đành, kể cả tầng lớp tri thức cũng đâu khá hơn là mấy. Ngày trước học là để thi khao cử với hi vọng kiếm chút công tước cho dòng họ nở mày nở mặt. Phục vụ đất nước cũng chỉ là trung thành tuyệt đối với vua, chứ đâu mấy ai nghĩ tới chuyện đem công bằng, bác ái đến cho tầng lớp dân đen đâu.
Cái câu “một người làm quan cả họ được nhờ” chả phải là lý tưởng và mục đích của tri thức Việt Nam ngày xưa sao. Cái thói học với mong muốn kiếm chút bổng lộc từ triều đình đã đưa đất nước tụt quá xa so với thế giới. Tri thức thay vi nâng cao hiểu biết cho dân thì lại xem những gì mình có, mình học như là cái quyền để cưỡi lên đầu lên cổ người khác. Ấy là tôi nói về thời phong kiến ngày xưa, còn bây giờ nền giáo dục có khác nhau là mấy so với trước đây đâu, có khi nó còn tệ hơn chứ nói gì tốt với đẹp.
Nhìn hàng trăm, hàng nghìn tiến sĩ, thạc sĩ bám đít lũ quan tham, nhóm lợi ích để cầu danh, cầu lợi, cầu nhà, cầu xe là nhận thấy cái gọi là tri thức Việt Nam cũng chỉ là một lũ cộng nô. Ngay xưa học mà không đi đôi với thực tế thì gọi là hũ nho, ngày nay học để làm tôi mọi cho lũ quan to, bụng phệ dù trong đầu bọn tham ô câu chữ viết chấm phẩy còn không xong, thì tri thức không là công nô, hũ bại là còn gì.
Dân đen là thế, tri thức cũng không nhờ cậy được gì, thế còn chính quyền thì sao?
Nói ra thì nói là phản động, là bôi xấu lãnh đạo nhưng thực tế thì bọn họ cũng đâu khá hơn là mấy. Cái bọn này còn tệ hơn đám tri thức rơm kia, vì bọn chúng có trong tay quyền lực, được đi đây đó, hiểu biết thực tế nhiều hơn dân đen, ấy thế mà tụi nó lại đi làm cho ngoại bang. Không đổ lội hết quan chức bây giờ là thân Trung Cộng, nhưng có mấy vị tại to mặt lớn mà không bám đít nhà Hán. Cái khác biệt lớn nhất của chính quyền hiện nay so với thời phong kiến là đây.
Quan chức phong kiến có thể vì lợi mà hà hiếp dân chúng, chứ ít khi vì lợi mà nhu nhược, bán đất, bán biển, bán rừng cho nhà Hán, ấy thế mà cái thời đại cộng sản bọn họ không chỉ tham lam, độc ác với dân mà còn nhu nhược, hèn nhát và đê tiện trước mặt ngoại bang. Bọn họ chơi chính trị theo kiểu đĩ điếm, sẵn sàng ăn nằm với bất kì ai nếu họ đem lại lợi ích cho mình.
Trước thì bám đít Liên Xô xem Trung Cộng là kẻ thù, gọi là phản động nên Trung Cộng nó xua quân đánh dọc các tỉnh biên giới bắc Việt Nam, đẩy hàng trăm nghìn con dân Việt chết vì mình. Đến khi Liên Xô sụp đổ thấy quyền lợi bị lung lay thì khúm núm, quỳ lại xin Trung Cộng chống lưng, và để thoả mản cái danh vọng quyền lực thì đi đến cái “hội nghị thành đô” chấp nhận nhường đất, nhường biển để làm chư hầu cho Trung Cộng.
Thử hỏi đât nước mình là cái gì đây?
Cả một chăng đường lịch sử dài gần mấy ngàn năm, có cả một nền văn hiến lâu đời nhưng thứ hỏi xem có mấy ai biết hình hài đất nước mình như thế nào? Dân đen thì nghĩ phục tùng chính quyền, tôn thờ lãnh tụ là yêu nước. Tri thức thì khôn ranh hơn, yêu nước là yêu cái chức vụ của mình, cố làm sao đừng để nó lung lay là coi như yêu nước. Còn chính quyền thì toàn một lũ vừa tham, vừa thâm, vừa ác nên yêu nước là phải nhất quyết duy trì chế độ đến tính mạng dân đen cuối cùng. Đất nước là vậy đó, chỉ là nồi cơm, cái ghế và danh vọng của từng người, từng nhóm nhỏ nào đó. Thế mà nhiều kẻ vẫn hô hào lòng yêu nước, giảng dạy về lòng yêu nước, và bỏ tù những ai dám thể hiện lòng yêu nước.
Có viết trăm bài viết, kể trăm câu chuyện thì cũng chỉ là lập lại lời của tiền nhân trước đây. Các bậc tiền nhân có tâm, có tài đã mổ xé rất chi tiết, đã chỉ ra đâu là nguyên nhân khiến Việt Nam mãi mãi chỉ lết theo đít những nước phát triển chậm. Phương pháp cũng đã được nêu ra làm thể nào để đưa đất nước thoát khỏi cảnh “không chịu phát triển”, trong đó người viết ấn tượng về chủ trương “Khai dân tri”, “Chấn dân khí” và “Hậu dân sinh” của cụ Phan Châu Trinh. Không gì bền vững và ổn định cho bằng sự thay đổi tận căn các nguồn lực của đất nước, và chỉ có một con đường duy nhất là “học”.
phan chu trinh

Niềm Vui Thật Sự

Phần lớn, niềm vui của tất cả mọi người chúng ta đều bắt nguồn từ những yếu tố, tác động từ bên ngoài. Chẳng hạn như bạn vui khi được ăn ngon, mặc đẹp, khi được người khác khen (dù chẳng biết là có thật lòng hay không), khi cái status trên facebook của bạn có nhiều người like, khi mới có được cái iphone 5, khi được tăng lương, thăng chức, khi đi tham quan du lịch ở đâu đó, được sống bên người mình yêu, được cái này, được cái kia… Có nghĩa là nếu không có được những thứ đó bạn sẽ không thấy vui, hoặc ngược lại là nếu có gì đó tiêu cực xảy ra trong đời bạn thì bạn sẽ thấy buồn, stress, thất vọng….

Nghĩ sâu hơn, những yếu tố ngoại cảnh đó chính là nhân tố quyết định niềm vui của bạn. Khi nó cho phép bạn vui thì bạn mới vui, khi nó không cho phép hay khi vắng bóng nó thì bạn không thấy vui. Phải chăng tình trạng này cũng giống hệt như nô lệ? Chỉ có điều là nó xảy ra quá thường xuyên và quá đại trà đến nỗi không ai nghĩ nó chính là một dạng nô lệ tệ nhất. Tệ nhất là vì không ai nhận ra được nó, tệ nhất là vì ai cũng cho nó là một điều bình thường. Không, chúng ta cần phải khẳng định lại với chính mình rằng nó không hề bình thường; nó bất thường, và chúng ta nên có cách để giải quyết nó. Nó giống như một căn bệnh mà chúng ta cần phải chữa trị. Đây chính là một căn bệnh tâm lý muôn ngàn đời. Tiếc là ít ai nói cho chúng ta biết những điều này.

Cuộc sống này sẽ không bao giờ xảy ra theo đúng 100% như những gì bạn muốn, và nó không nên xảy ra như vậy, vì nếu tất cả mọi thứ đều xảy ra theo ý bạn vậy thì có lẽ những bài viết của tôi và bạn sẽ không có duyên với nhau lắm. Nếu bạn chưa lập gia đình, tôi đoán là từ 60-70% mọi chuyện có thể xảy ra đúng ý bạn muốn, nhưng một khi bạn lập gia đình rồi, có thể tỉ lệ đó sẽ bị đảo ngược lại, có nghĩa là chỉ vào khoảng 40%-30%, chẳng phải là ai cũng nói thế hay sao và tôi nghĩ là chắc bạn cũng có thể mường tượng được. Bạn có thể thấy, nếu để được thoải mái mà phải lệ thuộc vào những tác động bên ngoài thì tỉ lệ và cơ hội của bạn sẽ khá thấp, sẽ không bao giờ được 100%. Đó là lý do tại sao bạn lại gặp những chuyện không vui ngày hôm qua. Mọi chuyện xảy đến với bạn (để ý là không có tính từ vui hay buồn đứng sau), không phải chuyện vui hay chuyện buồn xảy đến với bạn; bạn mới chính là người quyết định xem là chuyện đó là chuyện vui hay không vui.

Nhiều người khi gặp chuyện gì đó họ thấy không vui, có thói quen nhìn lên trời. Họ nhìn lên trời như thể đang muốn than trách với một ông trời nào đó đang sống trên tầng mây thứ 9. Có lẽ họ không biết là họ nhìn sai hướng rồi. Họ quên rằng họ đang sống trên một trái đất hình tròn, luôn xoay quanh một trục, luôn xoáy quanh một mặt trời di động liên tục trong không gian. Nếu một người cứ nhìn lên như vậy thì hướng nhìn của anh ta sẽ luôn thay đổi, họa may lắm thì mới nhắm trúng được nơi cư ngụ của ông trời.

Ai trong các bạn có thể chỉ cho tôi biết đâu là trên, đâu là dưới? không phải khái niệm trên dưới xét về mặt địa lý không gian 3 chiều trên trái đất, mà là khái niệm tuyệt đối căn cứ vào toàn bộ không gian trong vũ trụ; ai có thể chỉ cho tôi biết? Cũng thế, ai có thể biết được đâu là Đông, đâu là Tây, đâu là Nam, đâu là Bắc? Không ai có thể biết được. Con người đặt ra những khái niệm đó chỉ là để dễ dàng diễn đạt ý nghĩ cho nhau hơn mà thôi; nếu so với cái toàn thể thì nó không có ý nghĩa gì hết.

Khái niệm mà chúng ta có thể biết được rõ ràng chính là trong và ngoài. Thật vậy, tôi lặp lại một lần nữa, trong ngoài là điều duy nhất bạn có thể biết được. Nó thật sự là một đặc quyền mà loài người có mà ít ai biết được hay nhận ra.

Cho tới khi bạn giác ngộ thì hai khái niệm trong và ngoài là điều duy nhất mà bạn có thể chắc chắn. Bạn biết được cái nào là mình, cái nào không phải là mình. Cho tới khi bạn nhận ra được bạn chính là tất cả, bạn hiện diện mọi lúc mọi nơi, bạn là một sự diễn đạt của vũ trụ với mong muốn được trải nghiệm sự toàn bộ của chính nó, bạn chính là big bang trong hình hài một con người, không phải là kết quả của nó, mà chính là nó. Kết quả chỉ xảy ra khi một cái gì đó kết thúc, và big bang thì chưa bao giờ kết thúc, nó vẫn luôn luôn tiếp diễn. Nhắc tới big bang thì có lẽ thật thiếu sót nếu như không nhắc tới Alan Watts và Terence McKenna; Alan Watts có một video clip rất hay nói về vấn đề này mà tôi đã từng có cơ hội chuyển dịch (bấm nút CC để xem vietsub); còn McKenna thì tôi xin trích dẫn ngay dưới đây.

“Thật ra nó chẳng khác gì so với cách nói, “Và Chúa phán, hãy có ánh sáng.” Và cái mà các triết gia khoa học này đang nói là, hãy cho chúng tôi một phép lạ miễn phí, và chúng tôi sẽ tiếp tục từ đó – từ căn sinh của thời gian tới vết nứt của tận thế! – Chỉ một phép lạ miễn phí, và rồi sau đó nó sẽ tự tháo gỡ tuân theo những quy luật tự nhiên, và những cái phương trình lạ lùng không ai có thể hiểu này lại được phong thánh trong cái tổ chức này. Vâng, thế thì tôi nói, nếu khoa học có được một phép lạ miễn phí, thì tất cả mọi người cũng được một phép lạ miễn phí.” – Terence McKenna (dịch: NHH)


Những gì tôi vừa mới nói ở phần cuối bài này có thể sẽ hơi cao so với nhiều người, nhưng không vì thế mà tôi không nói ra. Tôi cứ nói ra đấy ai hiểu được thì hiểu, không hiểu được thì thôi, rồi cũng tới một lúc nào đó bạn cũng sẽ hiểu được thôi. Tôi chỉ hy vọng là không có ai hiểu lầm ý mình. Tôi có đưa cho mẹ xem những bài viết của mình. Mẹ tôi là một người phụ nữ thật thà mộc mạc giản dị bình dân chất phác, đọc sơ qua mẹ nói con viết gì cao siêu khó hiểu quá như vậy thì làm sao mà nhiều người đọc được? Tôi chỉ cười rồi nói, ai đọc được thì đọc, không đọc được thì thôi có gì đâu. Mẹ đi nhà thờ vì mẹ thấy nó hợp với mẹ, thì những bài viết của con cũng phù hợp với những người thấy phù hợp với nó, cụ thể là tầng lớp trí thức, những con người đi đầu dẫn dắt một xã hội đi lên.

Nguyen Hoang Huy
                                                                                                                            Sưu Tầm

Nghĩa vụ là gì?

Nghĩa vụ là gì?

Phạm QuỳnhThượng Chi Văn Tập, Bộ quốc gia giáo dục - 1962
03:03' PM - Thứ ba, 02/06/2009
Tiên nho có câu: “Muốn nhập môn đạo Khổng Mạnh, trước hết phải biết cách phân biệt điều nghĩa điều lợi.”
Tiên nho gọi điều nghĩa, tức ta gọi là nghĩa vụ; tiên nho gọi điều lợi tức làquyền lợi. Hai cái quan niệm về nghĩa vụ quyền lợi thực là cái chốt của luân lý vậy. Nghĩa với lợi quan hệ thế nào, đó là một vấn đề rất trọng, người ta dù ở đời nào nước nào, cũng phải xét đến. Vì giải vấn đề ấy, tức là giải nghĩa đời người vậy.
Đại để các xã hội ngày xưa lấy nghĩa trọng hơn lợi. Không những thế, mà trong hai cái quan niệm về nghĩa vụ cùng quyền lợi, chỉ biết nghĩa vụ mà không hề nghĩ đến quyền lợi. Lại không những thế, mà trong một xã hội những người bởi địa vị của mình được có quyền lợi đối với người khác, cũng tự coi quyền lợi ấy là nghĩa vụ. Vua đối với tôi, cha đối với con, chồng đối với vợ, đều là có quyền lợi riêng, mà thực là có nghĩa vụ riêng. Vua có quyền trị dân, nhưng cái quyền ấy tức là phải lo cho dân được an lạc; cha có quyền dạy con, nhưng cái quyền ấy tức là phải gây cho con được nên người; chồng có quyền khuyên vợ, nhưng cái quyền ấy tức là phải mưu cho gia đình được thuận hòa vui vẻ. Nói rút lại thì ngày xưa quan niệm quyền lợi thuộc về “tiêu cực”, mà quan niệm nghĩa vụ thì thuộc về “tích cực”. Ngày nay tựa hồ như phản trái lại: “tiêu cực” chuyển ra “tích cực” mà “tích cực” chuyển ra “tiêu cựu”, quyền lợi xem ra trọng hơn nghĩa vụ.
Sự chuyển dịch ấy khởi ra tự Âu châu. Các nước Âu tây xướng ra nhân quyền, lại xướng ra dân quyền, làm kinh thiên động địa vì hai chữ “quyền lợi”. Vua có quyền lợi đối với dân, nhưng dân cũng có quyền lợi đối với vua, cha có quyền lợi đối với con, nhưng con cũng có quyền lợi đối với cha, chồng có quyền lợi đối với vợ, nhưng vợ cũng có quyền lợi đối với chồng. Bấy nhiêu quyền lợi tranh giành xung đột nhau, khởi lên như giao dựng, thì phán địch làm sao cho được? Ai cũng có quyền lợi cả, mà duy có cái quyền lợi tối yếu là cái quyền quyết định mọi sự cạnh tranh thì không thuộc về ai! Bởi vậy mà trong lịch sử Âu châu đã từng nổi lên lắm phen biến loạn cải cách, gây nên phong trào tự do bình đẳng ngày nay. Nhưng người Âu châu giàu tính tự trị, tập thói tự do đã lâu đời, nên đã khởi ra mới có thể đương được cái phong trào ấy. Thế mà lắm khi nó mạnh quá cũng còn sinh ra nhiều sự nguy hiểm cho xã hội. Như trong nước ai cũng đòi quyền lợi, thậm chí người đàn bà cũng bỏ chốn khuê phòng mà ra nơi công chúng yêu cầu những quyền bầu cử, quyền chính trị, thì xã hội còn có trật tự nào nữa, gia đình còn thể vững bền sao được?
Các nhà trí thức bên Âu châu vẫn biết cái nguy đó, nên nhiều người đã tìm cách để duy trì cho xã hội. Các nhà ấy nghĩ rằng tự do mà đem đến cực điểm thì không phải là một sự hay nữa mà thành một cái vạ, quyền lợi mà không có hạn chế thì chỉ đủ gây nên rối loạn. Vậy muốn chữa lại cái tệ ấy, không gì bằng bồi dưỡng lấy “lòng nghĩa vụ” trong quốc dân, khiến cho ai nấy đều hiểu rằng người ta tuy có quyền lợi, nhưng trọng nhất là nghĩa vụ của mình, muốn hưởng quyền lợi kia, trước phải làm cho trọn nghĩa vụ này mới được. Một nhà làm sách có tiếng ở nước Pháp bàn về nghĩa vụ đã nói rằng :
“Từ thuở đồng ấu cho đến tuổi trưởng thành, cả công giáo dục phải là chỉ gồm lại một bài dạy nghĩa vụ. Phàm việc mưu toan, phàm sự nghiệp, mục đích gì, cũng phải xét theo một phương diện cao thượng ấy cả, khiến cho hai chữ nghĩa vụ thành một cái đầu bài hằng ngày phải giảng đến, diễn ra đủ các mặt, lấy những gương danh dự xưa nay mà chứng tỏ thêm vào. Phải giải cho rõ rằng nghĩa vụ đối với quyền lợi là đứng cái thế quân bình, không những thế mà lại điều hòa thích hợp với nhau nữa. Phải bày cho tường rằng nghĩa vụ vốn nó trang nghiêm tôn trọng, càng thực hành ra bao nhiêu lại càng cao càng quí lên bấy nhiêu. Phàm người làm cha, làm thầy, làm bạn, không cần phải có văn bằng sư phạm, đều là có tư cách dạy nghĩa vụ cho bọn thiếu niên. Phải khiến cho chúng biết nghĩa vụ mãnh liệt thế nào, phong phú thế nào, nó cho người ta cái sức cất nổi quả núi, nó tắm gội cho tâm hồn người ta, rửa sạch mọi sự phiền não, khiến cho trong lòng được vui vẻ bình tĩnh. Phàm việc gì bởi nghĩa vụ mà làm thì làm mới được trọn vẹn, mà những việc ấy thường lại là những việc rất khó khăn. Làm việc nghĩa vụ, dù không được thành công, không được lợi lộc, mà trong sự thất bại cũng có cái thú âm thầm nó đền cho công khó nhọc. Nghĩa vụ không bao giờ khiến cho phải oán phẫn hối hận. Bao giờ cũng có cái vẻ bình tĩnh uy nghiêm, mà không biết cái mùi xót xa cay đắng...” (Henri Lavedan).
Mấy lời đó thực là cực tả cái thế lực, cái oai quyền, cái hiệu nghiệm, cái công đức của hai chữ Nghĩa vụ.
Ấy các nước Âu tây là nơi tư tưởng về quyền lợi thịnh hành như thế, mà còn trọng, còn thờ nghĩa vụ như vậy. Cho hay hai mối nghĩa vụ quyền lợi thực như lời nhà danh số Pháp đã nói, đứng thế quân bình, nếu thiên trọng một bên nào thì trật tự xã hội tất phải điên đảo.
Âu tây còn thế, phương chi là ta.
Phạm Quỳnh - hiệu Thượng Chi, bút danh: Hoa Đường, Hồng Nhân - là một nhà văn hóa, nhà báo, nhà văn và quan đại thần triều Nguyễn (Việt Nam). Ông là người đi tiên phong trong việc quảng bá chữ Quốc ngữ và dùng tiếng Việt - thay vì chữ Nho hay tiếng Pháp - để viết lý luận, nghiên cứu. Ông chủ trương chiến đấu bất bạo động nhưng không khoan nhượng cho chủ quyền độc lập, tự trị của Việt Nam, cho việc khôi phục quyền hành của Triều đình Huế trên cả ba kỳ (Bắc, Trung, Nam), chống lại sự bảo hộ của Pháp và kiên trì chủ trương chủ nghĩa quốc gia với thuyết Quân chủ lập hiến.
Các tác phẩm chính:
Thượng Chi văn tập (5 tập) (Bộ Quốc gia giáo dục, Sài Gòn, 1962)Pháp du hành trình nhật ký (NXB Hội Nhà văn - H, 2004)
Tiểu luận viết bằng tiếng Pháp trong thời gian 1922 - 1932 (NXB Tri thức, H,2007) 
Một tháng ở Nam KỳMười ngày ở Huế
Luận giải về văn học và triết học(Nxb. Văn hoá Thông tin và Trung tâm văn hoá - ngôn ngữ Đông Tây xuất bản, H, 2003)
Hoa Đường tùy bút
>> Trang tác giả: Phạm Quỳnh
Nước ta từ khi nho học suy, luận lý cũ thấy đã lãng bỏ nhiều. Mà luân lý cũ, tức là cái luân lý “duy nghĩa” không có một phần nào “duy lợi” vậy. Cả cái lâu đài đạo đức của ông cha ta, đều là xây lên một cái nền chữ Hiếu cả. Hiếu chẳng phải là nghĩa vụ rất tôn, rất nghiêm, rất cao thượng rất thuần túy dư? Nhưng hiện nay lâu đài ấy không được vững vàng như xưa nữa, dường như sắp đến ngày đổ nát. Thử xét khắp các hạng người trong xã hội, đâu đâu cũng chỉ thấy đua nhau mà xô đẩy vào trường cạnh tranh quyền lợi. Người làm quan hầu như chỉ có một mục đích là vơ vét lấy của dân cho thật nhiều, để mưu sự sung sướng cho một mình. Kẻ đi học cũng không chủ ở sự học, chỉ cốt ở đường thi cử tiến thân, học để làm việc nọ cầu chức kia, không phải học cho nên người tài giỏi. Những kẻ được quốc dân suy tôn nhất; là người khéo yêu hãnh cầu cạnh, kiếm được nhiều tiền, chiếm được vị cao, không phải là người phẩm hạnh hay, nhân cách tốt.
Muốn cứu lại cái tình thế nguy hiểm ấy, phải bồi dưỡng lấy lòng nghĩa vụ trong quốc dân; phải in sâu hai chữ “nghĩa vụ” vào trong tâm não mỗi người, khiến cho ai làm công việc gì cũng biết coi việc ấy là một sự thuộc về bổn phận mình phải làm cho trọn.
Một nước còn yếu hèn như nước ta, người dân lại cần phải có lòng nghĩa vụ nhiều hơn các nước khác. Vì thế nước mạnh cũng ví như vốn nước đã giàu, cái nợ của dân đối với nước nhẹ mà của nước đối với dân nặng; nên dân có nhiều quyền lợi mà ít nghĩa vụ. Thế nước yếu cũng ví như vốn nước còn nghèo, cái nợ của dân đối với nước nặng mà của nước đối với dân nhẹ; nên dân có nhiều nghĩa vụ mà ít quyền lợi. Âu cũng là một lẽ thừa trừ tự nhiên vậy. Dân ta thực là thuộc vào cái cảnh ngộ thế nước yếu mà vốn nước nghèo; nên cái nợ của dân đối với nước có phần nặng, phải trả cho xong mới mong có ngày được hưởng quyền lợi lớn.
Làm thế nào cho hết nghĩa vụ đó? Phải mỗi người tùy tài tùy sức mình, làm cho trọn cái bổn phận của mình, nghĩ đến lợi chung cho nước hơn là lợi riêng cho mình, đặt cho công việc mình một cái mục đích cao mà gắng sức cho đạt tới mục đích. Cái vốn chung của một nước chính là gồm những công phu riêng của mỗi người vậy.
Nay xét riêng trong cõi học mà thử hỏi nghĩa vụ của kẻ trí thức trong nước ta là thế nào? Nghĩa vụ ấy vừa to vừa rộng, vì bọn ta được lạm cái danh dự làm người đi trước, phải đưa đường chỉ nẻo cho quốc dân trong cuộc văn minh tiến bộ. Danh dự ấy có lớn, mà cái trách nhiệm tương đương nặng biết dường nào!
Cổ nhân có câu: Độc thư cứu quốc; câu ấy phải là cái khẩu hiệu của bọn ta. Vì ta học để làm gì? Nếu mục đích sự học chỉ là để sung sướng lấy một thân ta, thì mục đích ấy chẳng là thấp mà sự học ấy chẳng là hẹp lắm dư? Ta phải biết nghĩa vụ, biết danh dự của ta. Nghĩa vụ ấy, danh dự ấy, là học để giúp cho nước ta khỏi yếu hèn mà được cường thịnh, dân ta khỏi ngu tối mà được sáng suốt. Có lẽ có kẻ cho lời nói ấy là vu khoát, quá cao mà không thiết với sự thực. Người nào nghĩ như thế là lầm to. Phàm làm việc gì cũng phải có một mục đích; mục đích ấy là cái nêu, cái mốc cho công phu mình, là nơi công phu mình phải đạt tới mới được hoàn toàn. Mục đích ấy tất phải xa, phải cao hơn công việc làm, mình càng tiến lên thì mục đích ấy lại càng phải cao, phải xa, hơn mãi; vì cuộc sinh hoạt là một sự tiến bộ vô hồi vô hạn, hễ không tiến là thoái, lẽ tự nhiên như thế. Trong các công việc của người đời, còn việc gì cao hơn sự học nữa! Lấy một công việc tối cao như thế mà chỉ dùng để làm cái thang tiến đạt cho mình, thì chẳng là mất giá trị của sự học lắm dư?

Ai đã đem thân vào cõi học, phải có nghĩa vụ với nhà nước. Nhất là trong buổi sự học chửa thành nền nếp như ngày nay, nghĩa vụ ấy lại càng quan trọng lắm nữa. Chúng ta nay lênh đênh như chiếc bách giữa dòng, sóng này xô đi, sóng kia đẩy lại, ta phải ra tay chèo mà đưa thuyền ta vào nơi cửa bể kín đáo.
Cõi học mênh mông, nước nhà lắm việc. Trách nhiệm của học giả nước Nam nặng nề biết dường vào! Anh em ta theo đuổi về đường học vấn, phải gắng gỏi cho đi tới nơi; cốt nhất là tiệt cái mê mông những sự danh lợi hão huyền, mà coi sự học là một nghĩa vụ của mình, làm trọn được nghĩa vụ ấy tức là thêm được một phần vào cái vốn chung của nước, trả được một phần tròn cái nợ riêng của mình.
Chắc là kết quả sự học sẽ có ngày khiến cho mình được địa vị, quyền lợi xứng đáng với tài học mình. Nhưng không nên để cái mục đích sự học ở đấy, phải đặt nó cao hơn mới được. Đến được đấy, cũng chửa nên tự lấy làm mãn nguyện, mà tưởng rằng công học đã thập phần hoàn toàn rồi. Sự học không bao giờ là hoàn toàn được. Cái nợ khác có khi trả hết; nợ học là nợ chung thân vậy.
Huống dân ta về đường học thức mới còn thiếu thốn nhiều. Phi kiệt lực mà theo đuổi, mong sao cho bằng người?
Ấy nghĩa vụ của học giả nước Nam như vậy. Có làm trọn nghĩa vụ ấy mới mong hưởng được quyền lợi về sau. Người ta thường nói : không quyền lợi nào là không có nghĩa vụ, không có nghĩa vụ nào là không có quyền lợi. Nhưng chắc hơn nhất là trước phải biết nghĩa vụ mình ở đâu mà làm tròn nghĩa vụ đã: nghĩa vụ đã trọn, quyền lợi tất đến, không sai. Có lẽ phàm việc gì cũng nên một phương pháp đó, không chỉ một việc học mà thôi.
(1917)